Sau khi bị các cơ quan thông tấn, báo chí và dư luận lên án hành vi
vi phạm pháp luật của mình, phía Đan viện Thiên An đã nhào nặn ra cái
gọi là buổi “cung cấp thông tin”. Thực chất đây chỉ là chiêu trò để lừa
bịp dư luận.
“Cả vú lấp miệng em”
Trong cái gọi là “thư mời” của Đan viện Thiên An (số 55/ĐVTA
ngày 23/8/2020) chỉ mời đích danh ông Nguyễn Văn Du - Giám đốc Đài Phát
thanh và truyền hình tỉnh Thừa Thiên Huế và bà Nguyễn Thị Diễm My là
người dẫn chương trình Thời sự có phóng sự “Một số Đan sĩ Đan viện Thiên An chiếm đất, xuyên tạc sự thật”, ngoài ra, buổi “cung cấp thông tin”
không hề mời các cơ quan thông tấn, báo chí khác mà chỉ mời thêm một số
hộ dân sống xung quanh và Công ty TNHH NNMTV Lâm nghiệp Tiền Phong.
Phải chăng phía Đan viện Thiên An có dụng ý đánh lừa dư luận để tránh
“đánh động” các cơ quan thông tấn báo chí khác, không để các phóng viên
báo chí đến “làm hỏng” kế hoạch lừa bịp truyền thông của Đan viện Thiên
An, khi không có báo chí thì sẽ áp đảo, lấn lướt và uy hiếp những người
có liên quan đồng thời để cung cấp những thông tin sai lệch, có lợi cho
mình.

Sai Luật Báo chí 2016.
Nếu Đan viện Thiên An đã phát đi “thư mời cung cấp thông tin”
đến các cá nhân, tổ chức theo Điều 43 Luật Báo chí để “mời” các cá
nhân, tổ chức tham dự thì quá ... sai luật. Khoản 1, Điều 43, Luật Báo
chí 2016 về “Phản hồi thông tin” quy định “ Khi cơ
quan, tổ chức, cá nhân có căn cứ cho rằng cơ quan báo chí thông tin sai
sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của
mình hoặc gây hiểu lầm làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của
mình thì có quyền nêu ý kiến phản hồi bằng văn bản đến cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện tại Tòa án”. Theo
đó, nếu Đan viện Thiên An không đồng ý với những nội dung phóng sự của
Đài Phát thanh truyền hình tỉnh Thừa Thiên Huế thì phải có văn bản phản hồi
đến Đài hoặc cơ quan chủ quản là UBND tỉnh chứ không có quyền mời đến
để “cung cấp thông tin”. Nếu mời các cá nhân, tổ chức khác đến thì Đan
viện phải tổ chức họp báo theo Điều 41, Luật Báo chí 2016 và trước đó
Đan viện này phải có văn bản xin phép UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (Điểm b,
Khoản 3, Điều 41). Việc cố tình viện dẫn Điều 43 về “phản hồi thông tin”
là cố tình hướng lái dư luận cho rằng nội dung phóng sự của Đài Phát
thanh và truyền hình tỉnh Thừa Thiên Huế là “vu cáo” Đan viện Thiên An,
biến kẻ đi cướp thành người bị hại.
Ngoài ra, khi buổi “cung cấp thông tin” chưa được diễn ra thế nhưng Đan viện Thiên An lại yêu cầu “ Đài TRT có thể đăng phát ý kiến của Đan viện Thiên An theo Khoản 2, Điều 43 Luật Báo chí năm 2016”. Đan viện Thiên An quên rằng tại Khoản 3, Điều 43 cũng quy định “Cơ
quan báo chí có quyền không đăng, phát ý kiến phản hồi của cơ quan, tổ
chức, cá nhân nếu ý kiến đó vi phạm pháp luật, xúc phạm đến uy tín của
cơ quan báo chí, danh dự, nhân phẩm của tác giả tác phẩm báo chí, đồng
thời thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do để cơ quan, tổ chức, cá nhân
biết” lý do là đã có nhiều tài khoản facebook cá nhân,
fanpapge của Đan viện Thiên An và các cá nhân, tổ chức bên vực hành vi
vi phạm pháp luật của Đan viện này đã có hành vi đăng tải hình ảnh,
thông tin cá nhân của ông Nguyễn Văn Du, cô Nguyễn Thị Diễm My lên mạng
xã hội, đồng thời có những lời lẽ xúc phạm đến uy tín của Đài Phát
thanh và truyền hình tỉnh Thừa Thiên Huế, danh dự, nhân phẩm những người
trên, thậm chí còn điện thoại, nhắn tin đe dọa tính mạng ông Du, bà My
cùng người thân.
“Mời” hay “buộc phải đi”?
Đã là “thư mời” thì người được mời có quyền từ chối không đi dự thế nhưng phía Đan viện Thiên An lại yêu cầu “Trường
hợp Ông (ông Nguyễn Văn Du) và bà Nguyễn Thị Diễm My không hợp tác, Đan
viện Thiên An sẽ xem xét và có yêu cầu gửi đến các cơ quan có thẩm
quyền, để xử lý trách nhiệm theo quy định của pháp luật”. Đan viện
Thiên An lấy quyền gì để buộc các cá nhân khác phải “hợp tác”? Đan viện
không phải là cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý Nhà nước, thực thi
pháp luật để buộc công dân “hợp tác”, làm theo ý của mình. Đây là lời đe
dọa, “buộc phải đi” theo kiểu “rượu mời không uống thì uống rượu phạt”
của Đan viện Thiên An.

Ông Nguyễn Văn Du và bà Nguyễn Thị Diễm My có quyền không đến Đan viện Thiên An để được “cung cấp thông tin”
nếu xét thấy không cần thiết. Toàn thể khán giả truyền hình khẳng định
những nội dung thông tin phóng sự Đài Phát thanh truyền hình tỉnh Thừa
Thiên Huế có căn cứ là chính xác, khách quan, ủng hộ việc làm đúng đắn,
có trách nhiệm của lãnh đạo, phóng viên Đài Phát thanh truyền hình tỉnh
Thừa Thiên Huế trong việc nói lên tiếng nói của nhân dân.
LS
CÁI GỌI LÀ "THẢM SÁT MẬU THÂN-HUẾ 1968"- TRÒ LỪA BỊP ĐÃ BỊ VẠCH TRẦN BỞI MỘT SỬ GIA MỸ
Lời
dẫn: Hôm nay, ngày .../.../...., đã là ... tháng chạp năm ....... Chỉ còn mấy hôm
nữa sẽ là ngày Tết ........- Kỷ niệm ... năm Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy
Tết Mậu thân 1968. Cũng như ... năm qua, cứ vào dịp này thì trên mạng Internet lại
dày đặc các thông tin của mấy ông bà chống cộng cực đoan kiểu như "TRONG DỊP
TẾT NGUYÊN ĐÁN SẮP ĐẾN, XIN THA THIẾT KÊU GỌI ĐỒNG BÀO TRONG NƯỚC VÀ Ở HẢI NGOẠI
NHỮNG AI CÓ THÂN NHÂN ĐÃ BỊ VIỆT CỘNG/CỘNG SẢN THẢM SÁT TRONG TẾT MẬU THÂN 1968
HÃY CÙNG LÊN TIẾNG." Họ trưng ra các tài liệu của các "sử gia"
VNCH để chứng minh cho cái gọi là "Thảm sát Mậu thân", "Cộng sản khát máu" ... Họ đòi phải
đưa vụ "Thảm sát Mậu thân" ra xem xét và truy tố Việt Cộng tại Tòa án
Quốc tế về tội ác diệt chủng ...
Tại
các diễn đàn, bất cứ ai đưa ra ý kiến trái chiều là bị chụp mũ "Dư luận
viên của Đảng", là người đã bị Cộng sản "nhồi sọ"! Rất tiếc là
hiện nay có một số người, có cả một vài nhà báo, giảng viên luật... không biết
vì vô tình hay hữu ý, đã công khai sử dụng trên báo chí chính thống những tài
liệu của những "sử gia" VNCH mà không cần có sự đối chiếu với các nguồn
tài liệu khác khiến lịch sử bị bóp méo...
... năm- đúng nửa thế kỷ đã trôi qua. Nhưng rất may là thời internet hiện nay, nếu
với những người ham tìm hiểu thì chúng ta hoàn toàn có thể tham khảo rất nhiều
nguồn tài liệu, không chỉ những nguồn tài liệu lịch sử chính thống của Nhà nước
mà còn cả những tài liệu của chính những người Mỹ.
Hôm
nay, Google.tienlang giới thiệu Tập Tài liệu với tựa đề THE 1968 'HUE
MASSACRE'- “THẢM SÁT HUẾ” TẾT MẬU THÂN của một sử gia- Nhà báo Mỹ Gareth Porter
đăng trên Tạp
chí "Indochina Chronicle", số 33 ngày 24/6/1974.
Gareth
Porter (sinh 18 tháng 6 năm 1942 tại Independence, Kansas) là một sử gia, nhà
báo điều tra, và nhà phân tích về các chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ.
Sử gia- Nhà báo Mỹ Gareth Porter
Porter
tốt nghiệp Đại học Illinois, nhận bằng thạc sĩ (Master) trong lĩnh vực chính trị
quốc tế từ Đại học Chicago và bằng tiến sĩ (Ph.D.) trong lĩnh vực chính trị
Đông Nam Á từ Đại học Cornell.
Trong
thời chiến tranh Việt Nam, Gareth Porter là phóng viên thường vụ tại Sài Gòn
cho hãng thông tấn Dispatch News Service International và sau đó là đồng giám đốc
của Indochina Resource Center, một tổ chức nghiên cứu và giáo dục có trụ sở tại
Washington, D.C. Ông dạy môn nghiên cứu quốc tế tại City College of New York và
American University trong thời kỳ 1982-90.
Tham khảo thêm:
Video clip: HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG TRẢ LỜI KÊNH TRUYỀN HÌNH MỸ:
******************************
THE
1968 'HUE MASSACRE'- Dịch: “THẢM SÁT HUẾ” TẾT MẬU THÂN
1
Vụ "thảm sát tại Huế" năm 1968
1.1
VAI TRÒ CỦA TIỂU ĐOÀN CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ (POLITICAL WARFARE) SỐ 10
1.2
MÂU THUẪN VỚI KẾT QUẢ TÌM HIỂU CỦA MỘT BÁC SỸ
1.3
CÁC CUỘC KHAI QUẬT NĂM 1969
1.4
DOUGLAS PIKE: NGƯỜI THAO TÚNG BÁO CHÍ XUẤT SẮC
1.5
TÀI LIỆU "NHỮNG KẺ THÙ CỦA NHÂN DÂN" CỦA PIKE
1.6
CHO HỌ MỘT CON SỐ ...
1.7
PIKE VIẾT LẠI CHÍNH SÁCH CHO MTGPDT.
1.8
MỤC SƯ VÀ CÁC TRÍ THỨC TỰ HÀNH QUYẾT
Vụ
"thảm sát tại Huế" năm 1968
Tác
giả: D.Gareth Porter. Tạp chí: "Indochina Chronicle", số 33 ngày
24/6/1974.
Sáu
năm sau sự kiện Mậu Thân 1968, một trong những chuyện hoang đường dai dẳng của
Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai vẫn chưa được thách thức: cuộc "thảm
sát" của Cộng sản tại Huế. Phiên bản chính thức về những gì đã xảy ra tại
Huế đã là Mặt trận Giải phóng Dân tộc (MTGPDT) và Bắc Việt đã giết không chỉ
các quan chức có trách nhiệm mà cả các nhân vận tôn giáo, trí thức và dân thường
một cách cố ý và có hệ thống, và rằng các địa điểm chôn cất được tìm thấy sau
đó đã để lộ khoảng 3000 tử thi, phần lớn nhất trong tổng số 4700 nạn nhân của
việc hành quyết do Cộng sản thi hành.
Tuy
còn nhiều điều chưa được biết về những gì đã xảy ra ở Huế, nhưng có đủ bằng chứng
để kết luận rằng câu chuyện được chuyển tới nhân dân Mỹ bởi các cơ quan tuyên
truyền Mỹ và Nam Việt Nam khác xa với sự thật, mà trái lại, là kết quả của một
chiến dịch chiến tranh chính trị của chính quyền Sài Gòn, được hỗ trợ bởi chính
quyền Mỹ và được chấp nhận bởi báo chí Mỹ một cách không phê phán. Một nghiên cứu
kỹ lưỡng về một bên là câu chuyện chính thức về vụ "thảm sát" tại Huế,
và bên kia là các bằng chứng từ các nguồn tin chống Cộng độc lập, đem lại một
thoáng nhìn khám phá vào trong các nỗ lực của báo chí Mỹ nhằm nuôi sống nỗi sợ
hãi về một cuộc "tắm máu" lớn. [1] Đây là một .chuyện hoang đường đã
phục vụ lợi ích của chính quyền Mỹ trong quá khứ, và tiếp tục ảnh hưởng sâu sắc
đến thái độ của nhân dân hiện nay.
VAI TRÒ CỦA TIỂU
ĐOÀN CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ (POLITICAL WARFARE) SỐ 10
Để
làm sáng tỏ câu chuyện chính thức về Huế, người ta phải lần lại nguồn gốc của
các thông tin nguyên gốc mà đã được chuyển tới nhân dân Mỹ về sự việc.
Cơ
quan của chính quyền Sài Gòn được trao hoàn toàn trách nhiệm cho việc biên soạn
dữ liệu về vụ được cho là "thảm sát" và công bố thông tin không phải
Bộ Xã hội (Ministry of Social Welfare and Refugees) hay Bộ Y tế, như người ta
có thể mong đợi, mà là Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 của Quân lực Việt
Nam Cộng hòa (QLVNCH). Câu chuyện về vụ "thảm sát" được báo chí Mỹ
đưa tin trong các năm 1968 và 1969 đã được lấy cơ sở từ lời của đơn vị này - lực
lượng mà nhiệm vụ cụ thể của họ là làm mất uy tín của MTGPDT bất kể sự thật như
thế nào. Cả số lượng tử thi tìm được và các nguyên nhân tử vong đều chưa từng
được khẳng định bởi các nguồn tin độc lập. Trái lại, như chúng ta sẽ thấy, bằng
chứng từ các nguồn độc lập thách thức phiên bản sự thật của Tiểu đoàn Chiến
tranh Chính trị số 10.
Tường
trình chính thức của Sài Gòn về vụ được cho là thảm sát xuất hiện lần đầu vào
ngày 23-4-1968, khi Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị công bố một báo cáo rằng
hơn một ngàn người đã bị hành quyết bởi những người Cộng sản trong nội thành và
quanh Huế. Báo cáo của Tiểu đoàn đã được lặp lại chi tiết bởi United State
Information Service (dịch?) nhưng báo chí Mỹ lờ đi [2]. Một tuần sau, US
Mission công bố một báo cáo của chính mình, bản báo cáo này về bản chất là diễn
đạt lại báo cáo của QLVNCH. Báo cáo của US Mission được nói là đã là kết quả của
một cuộc điều tra "của các cơ quan chức năng Mỹ và Nam Việt Nam" [3].
Nhưng vai trò của các cố vấn Mỹ trong báo cáo có vẻ như chỉ là thứ cấp; theo
hãng tin của chính quyền Sài Gòn, Vietnam Press, báo cáo được dựa trên dữ liệu
cung cấp bởi Cảnh sát Quốc gia ở Huế, các cố vấn Mỹ, các cuộc phỏng vấn các
quan chức Thông tin và Tỵ Nạn của Nam Việt Nam, và "các hồ sơ của Tiểu
đoàn Chiến tranh Chính trị số 10," nơi cung cấp các thống kê cơ bản về các
vụ được coi là hành quyết [4]. Vietnam Press còn báo cáo rằng "một sỹ quan
của Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 có tham gia điều tra về các vụ hành
quyết ước lượng rằng gần như một nửa số nạn nhân tìm thấy đã bị chôn sống."
Trong
các tháng Ba và Tư, khi các tử thi được cho là của nạn nhân các cuộc hành quyết
của Cộng sản đang được khai quật, chính quyền Sài Gòn không cho phép bất kỳ
phóng viên nào xem các địa điểm có mộ hay các tử thi, mặc dù tại thời điểm đó
có rất nhiều phóng viên nước ngoài đang có mặt tại Huế. Cuối tháng Hai, Đại tá
Tỉnh trưởng Pham Van Khoa tuyên bố rằng 300 thường dân là viên chức chính phủ
đã bị Cộng sản hành quyết và đã được tìm thấy trong các ngôi mộ tập thể ở phía
đông nam thành phố [5]. Nhưng không một phóng viên nào được đưa đến thăm những
nơi được cho là mộ đó. Thực tế, nhiếp ảnh gia người Pháp, Marc Riboud, người đã
vài lần yêu cầu được nhìn thấy những ngôi mộ, đã liên liếp bị từ chối cấp phép.
Khi cuối cùng anh ta dùng trực thăng để đến địa điểm đã thông báo thì phi công
từ chối hạ cánh với lí do là vùng đất đó "không an toàn"[6]. Riboud
không bao giờ nhìn thấy địa điểm đó, và đến khi danh mục chính thức theo thời
gian của các phát hiện và bản đồ tọa độ của các địa điểm có mộ được công bố,
không có địa điểm nào giống với cái mà Đại tá Khoa miêu tả [7].
Cuối
tháng Ba, phóng viên Steward Harris của tờ Thời báo Luân Đôn có mặt ở Huế để viết
về cái được cho là các vụ hành quyết tập thể, đúng vào thời điểm mà theo danh mục
chính thức đã có khoảng 400 tử thi được tìm thấy trong khu vực các lăng vua ở
phía nam Huế. Nhưng thay vì đưa anh ta đến địa điểm đó, người sĩ quan chiến
tranh chính trị Mỹ lại đưa anh đến một địa điểm mộ tại khu Gia Hội, nơi các tử
thi đã được chôn cất lại từ lâu [8]. Do đó, anh ta phải dựa vào lời của các
quan chức Mỹ và Việt về những gì được tìm thấy tại các địa điểm mộ.
Hơn
nữa, Phòng Chiến tranh Chính trị của QLVNCH đã công bố các báo cáo mâu thuẫn
nhau về số lượng tử thi đã được tìm thấy. Ví dụ, tại địa điểm trường trung học
Gia Hội, báo cáo chính thức của Mỹ, dựa trên thông tin cung cấp bởi Tiểu đoàn
Chiến tranh Chính trị số 10, đưa ra tổng số 22 mộ tập thể và 200 tử thi, với
bình quân 9 tử thi mỗi mộ [9]. Nhưng khi Steward Harris được đưa đến địa điểm
đó, người sĩ quan Việt Nam hộ tống nói với anh ta rằng mỗi ngôi mộ trong số 22
ngôi có từ 3 đến 7 xác, cho ra tổng trong khoảng từ 66 đến 150 [10]. Cũng khoảng
trong thời gian đó, Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 xuất bản một cuốn
sách nhỏ dành cho người đọc Việt Nam, trong đó nói rằng tại trường học có 14 mộ
(chứ không phải 22), con số này còn làm giảm tổng số hơn nữa [11].
MÂU THUẪN VỚI KẾT
QUẢ TÌM HIỂU CỦA MỘT BÁC SỸ
Tính
chất lảng tránh của các con số của Sài Gòn là đáng kể khi xem xét lời chứng của
Alje Vennema, một bác sỹ làm việc cho một đội y tế Canada tại bệnh viện Quảng
Ngãi, người tình cờ có mặt tại bệnh viện tỉnh Huế trong thời gian xảy ra sự kiện
Tết Mậu Thân và là người đã tự thẩm tra các địa điểm mộ [12]. Vennema công nhận
rằng có 14 mộ tại trường Gia Hội, nhưng ông nói rằng trong các ngôi mộ đó tổng
cộng chỉ có 20 xác. Vennema còn khẳng định rằng tại hai địa điểm còn lại trong
khu Gia Hội chỉ có 16 tử thi thay vì 77 như chính quyền tuyên bố, và rằng tại
những địa điểm trong khu vực lăng vua ở tây nam Huế chỉ có 29 tử thi thay vì
201 như được tuyên bố trong các báo cáo chính thức.
Theo
Vennema, do đó, tổng số tử thi tại bốn địa điểm chính được phát hiện ngay sau Tết
là 68, chứ không phải con số 477 như đã được tuyên bố chính thức. Ngoài ra, tuy
không khẳng định rằng không có ai trong số các tử thi này đã là nạn nhân bị
MTGFDT hành quyết, nhưng ông nói rằng các bằng chứng cho thấy hầu hết họ là nạn
nhân của các cuộc giao chiến trong vùng chứ không phải do giết chóc chính trị.
Trong trường hợp các địa điểm trong khu lăng vua, ông khẳng định rằng hầu hết
các tử thi có dấu vết của quân phục. Ông kể rằng đã hỏi chuyện các dân làng gần
đó, họ nói rằng trong các ngày 21 đến 26 tháng Hai khu vực trung gian đã bị bom
và pháo dữ dội. Và, trái với các tuyên bố của chính phủ rằng nhiều nạn nhân đã
bị chôn sống tại đó, Vennema nói rằng tất cả các tử thi đều có các vết thương.
Các
tình tiết của phiên bản chính thức - nguồn gốc chiến tranh chính trị của nó, sự
từ chối cho phép sự khẳng định của báo chí từ quan sát trực tiếp, các thống kê
đáng đặt dấu hỏi - và lời chứng của một bác sỹ y khoa, (người mà khi đó đã có mặt),
tất cả đều chỉ đến sự miêu tả sai lạc sự thật của chính quyền Sài Gòn trong bản
báo cáo tháng Tư năm 1968 của họ. Trong thực tế, các bằng chứng cho thấy rằng
Tiểu đoàn Chiến tranh chính trị có thể đã thổi phồng con số của các vụ hành quyết
thực sự của MTGPDT lên mười lần hoặc nhiều hơn.
CÁC CUỘC KHAI QUẬT
NĂM 1969
Trong
năm 1969, khi có thêm nhiều tử thi được khai quật tại các ngôi làng xung quanh
thành phố Huế, một chương khác trong chiến dịch của chính quyền Sài Gòn được
thi hành bởi tiểu đoàn chiến tranh chính trị. Tử thi đầu tiên được tìm thấy ở
đông nam Huế, khi cuộc khai quật được diễn ra dưới sự giám sát của "Ủy ban
tìm kiếm và chôn cất các nạn nhân Cộng sản" đứng đầu bởi quận trưởng, thiếu
tá Trung. Một lần nữa, các nhà báo không được mời tới chứng kiến công việc khi
đang diễn ra, nhưng sau đó được mời bởi thiếu tá Trung, người nói rằng Ủy ban
đã tìm ra 135 thi thể tại xóm Vinh Luu của thôn Phu Da và 230 thi thể trong 7 hố
chôn tại thôn Phú Xuân. [13]
Điều
mà ông quận trưởng không nói với phóng viên, đó là toàn bộ những vùng tìm thấy
các hố chôn là chiến trường trong nhiều tuần của năm 1968. MTGPDT đã tiếp tục
giữ nhiều làng nhỏ ngay cả sau khi đã bị đẩy ra khỏi thành phố, và một số làng
vẫn nằm trong quyền kiểm soát của họ trong hàng tháng, khi các máy bay ném bom
của Mỹ đánh phá họ dữ dội.
Một
trong bốn địa điểm được phát hiện cuối tháng Ba năm 1969, nơi được coi là chứa
22 tử thi, nằm giữa hai làng Phú Mỹ và Tuy Vân [14]. Làng Phú Mỹ, chỉ cách Huế
3 dặm về phía đông, là một trong các làng đã bị các đơn vị Cộng sản chiếm giữ
trong cuộc tổng tấn công, khi nhiều nam giới trẻ nằm trong tuổi quân sự đã được
gọi vào Quân Giải Phóng. Theo một cuộc phỏng vấn sau này với một người dân
làng, máy bay Mỹ đã liên tục ném bom làng, phá hủy hàng trăm ngôi nhà và làm
dân thường thiệt mạng.
Ba
địa điểm còn lại, được tìm thấy cuối tháng Ba và đầu tháng Tư, theo danh sách của
Lầu Năm Góc có chứa 357 thi thể, nằm tại làng Phú Xuân và tại làng Phú Đa cách
đó một đoạn đường ngắn [15]. Một lần nữa, Phú Xuân, cách Huế 13 dặm, đã là chiến
trường của các cuộc giao tranh dữ dội, trong đó có sự sử dụng mạnh của không lực
Mỹ, trong các tuần nối tiếp cuộc Tổng tấn công. Trong một trận chiến kéo dài cả
ngày mà các bom Mỹ đã được dùng đến, khoảng 250 lính Cộng sản đã bị thiệt mạng,
theo một phỏng vấn với trưởng làng Phú Xuân được đăng trên tờ Tiền Tuyến - tờ
báo của chính Phòng Chiến tranh Chính trị [16].
Khẳng
định của Sài Gòn rằng các tử thi tìm thấy là xác của các nạn nhân bị Cộng Sản
hành quyết đã không thuyết phục ngay cả các quan chức trong chính quyền Sài
Gòn. Bộ trưởng Y tế, Trần Lưu Y, sau khi đi thăm các địa điểm chôn cất vào
tháng Tư năm 1969, đã thẳng thắn thông báo với Phó Tỉnh trưởng Thừa Thiên quan
điểm của ông rằng các tử thi có thể là của những người lính MTGPDT bị chết
trong các trận giao tranh [17]. Báo Phòng Chiến tranh Chính trị lập tức lên án
ông Bộ trưởng vì thái độ hoài nghi này [18]
Những
thông tin ít ỏi được đưa ra về các thi thể chắn chắn hỗ trợ cho nghi ngờ rằng
chỉ có rất ít nạn nhân quả là đã bị Cộng sản hành quyết. Xét riêng một điều,
báo cáo của chính Thiếu tá Trung về số tử thi tìm thấy trong quận của mình chỉ
khẳng định 9 nhân viên dân sự và 14 lính quân đội Sài Gòn trong tổng số 365
[19]. Người ta biết rất rõ rằng một số lượng đáng kể tử thi là của phụ nữ và trẻ
em. Một sỹ quan Mỹ tại Huế đã thừa nhận với một phóng viên tờ _Washington Post_
tại một lễ tang tập thể cho những người chết: "Một số có thể đã đơn giản
là bị kẹt lại [trong các cuộc giao tranh]" [20]. Thật sự không có gì lạ nếu
MTGPDT đã chôn nhiều phụ nữ và trẻ em bị chết do bom và pháo tại các làng mà họ
đã kiểm soát ở gần Huế.
Một
phát hiện chủ yếu khác vào tháng Chín năm 1969 về các thi thể tại khe Đá Mài, một
vùng rừng rậm cách Huế 10 dặm về phía nam, vẫn bị bao quanh bởi các mâu thuẫn
và sự mơ hồ. Thậm chí số tử thi được tìm thấy đến nay vẫn là một cái gì đó bí ẩn.
Tường trình chính thức của Lầu Năm Góc cho rằng con số vào khoảng 250 [21].
Nhưng một vài tháng sau, khi Douglas Pike, chuyên gia về Việt Nam của U.S.
Information Agency, báo cáo về kết quả tìm kiếm, con số đã tăng lên 428 [22]
Hơn
nữa, người "chiêu hồi" được Sài Gòn đưa ra để chứng thực về cái được
coi là vụ thảm sát của Cộng sản đã kể hai câu chuyện rất khác nhau và đầy mâu
thuẫn về sự việc. Trong một cuộc phỏng vấn được sắp xếp bởi chính quyền Sài Gòn
với tờ _Baltimore Sun_ cuối năm 1969, người "chiêu hồi" chứng rằng một
chỉ huy Cộng sản khu vực, người đã từ là bạn của anh ta, đã nói với anh ta rằng
gần 600 người từ Phú Cam và Tu Dam đã giao cho những người dân tộc miền núi
theo Cộng sản để bị họ giết. Lý do, như anh ta giải thích với tờ Sun, là rằng họ
đã là "những tên phản bội cách mạng"[23]. Nhưng cũng chính người đàn
ông này, trong một cuộc phỏng vấn với thông tín viên của _Tiền Tuyến_ vài ngày
sau đó đã nói rằng cũng chính người chỉ huy khu vực đó đã kể với anh ta rằng
500 "tên ác ôn" đã bị đưa lên núi, không phải để giết mà để cải tạo."
[24]
Một
lần nữa, có một mâu thuẫn trực tiếp và quan trọng giữa các phiên bản của Pike
và phiên bản chính thức của Lầu Năm Góc về việc các nạn nhân là ai và họ từ đâu
đến. Phiên bản của Pike nói rằng họ là một nhóm người bị bắt trong một nhà thờ
tại khu Công giáo Phú Cam ở Huế ngày 5 tháng Hai năm 1968, và bị giải về năm dặm
về phía nam, nơi 20 người trong số đó bị hành quyết bởi một tòa án nhân dân và
sau đó bị chuyển giao cho một đơn vị Cộng sản địa phương, đơn vị này đưa họ
thêm 3 dặm rưỡi ra xa Huế trước khi giết họ. [25]. Tuy nhiên, tường trình của Bộ
Quốc phòng [Mỹ] viết rằng một nhóm thường dân bị đưa đi khỏi nhà thờ Phú Cam với
số lượng chỉ gồm từ 80 đến 100 người, không phải 400 như Pike viết.[26]. Hơn nữa,
một bản tường trình nguyên được đăng tại một tờ báo bán chính thức _Viet-Nam
Magazine_ và được in lại bởi Đại Sứ quán Sài Gòn tại Washington, khẳng định rằng
tất cả mọi người ngoại trừ 20 người bị hành quyết bởi tòa án nhân dân đã được
cho phép trở về Huế với cảnh báo rằng MTDTGPMN một ngày nào đó sẽ quay lại Huế,
và rằng dân chúng nên cư xử cho thích hợp.[27]
Các
mâu thuẫn trên rất quan trọng khi xét nỗ lực của Pike khi lý luận rằng những bộ
hài cốt tại Đá Mài chắc chắn là nạn nhân do Cộng sản giết hại vì họ là nhóm người
đã bị đem đi từ Huế với danh nghĩa tù nhân. Trong thực tế, có bằng chứng rằng hầu
hết những người rời khỏi Phú Cam với Cộng sản hoàn toàn không phải tù nhân, mà
họ bị ép phục vụ với vai trò người khiêng cáng thương, tải đạn, và thậm chí cả
với vai trò binh sĩ cho MTDTGPMN. [28]. Như Hãng Thông tấn Pháp tường thuật từ
Huế trong thời gian diễn ra trận đánh chiếm thành phố, một số nam thanh niên, đặc
biệt từ vùng Phú Cam, đã nhận được súng hoặc được sử dụng như là những người
khiêng cáng thương để vận chuyển thương binh về phía những nơi đóng quân trên
núi. [29]
Một
lần nữa, các bằng chứng gián tiếp đã hàm ý mạnh mẽ rằng 250 bộ hài cốt tìm được
tại khe Đá Mài (không phải 400 như Pike tuyên bố) cũng đã bị giết trong chiến
trận hoặc bởi bom B-52 của Mỹ. Bài báo tại _Viet-Nam Magazine_ ghi chú rằng địa
điểm "nằm trong vùng lân cận nơi Cộng sản đã đánh trận lớn cuối cùng với
quân đồng minh (từ 30-4 đến 2-5-1968)" [30] -- một sự kiện mà người đọc của
báo chí Mỹ chưa từng được biết. Giải phóng Quân đã luôn luôn chú trọng vào việc
mang xác của những người lính của họ ra khỏi chiến trường rồi mới chôn nhằm mục
đích phủ nhận các thông tin tình báo chiến thuật của đối phương về thương vong.
Nói
ngắn gọn, những điểm không nhất quán và các điểm yếu khác của nhiều tài liệu
chính thức, sự thiếu bằng chứng khẳng định, và sự có mặt của các bằng chứng mâu
thuẫn với các lời giải thích chính thức, tất cả hàm ý rằng đại đa số các thi thể
tìm được trong năm 1969 trong thực tế là các nạn nhân của không lực Mỹ và của
giao tranh mặt đất đã diễn ra ác liệt trong các ngôi làng, chứ không phải do
MTDTGP hành quyết.
DOUGLAS PIKE:
NGƯỜI THAO TÚNG BÁO CHÍ XUẤT SẮC
Douglas Pike, chuyên viên của US Information Agency- Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ
Phần
lớn nhờ công của một người mà vụ "thảm sát" Huế đã nhận được sự theo
dõi đáng kể và bình luận rộng rãi của báo chí Mỹ trong các năm 1969 và 1970.
Người đó là Douglas Pike, chuyên viên của US Information Agency- Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ (Ghi chú của Google.tienlang: Cơ
quan Thông tin Hoa Kỳ là tổ chức quan hệ công chúng lớn nhất trên thế
giới, chi tiêu hơn 2 tỷ đô la mỗi năm để tuyên truyền quan điểm của Mỹ
đến khoảng 150 quốc gia khác nhau.) Pike là người
đã đến Nam Việt Nam tháng 11 năm 1969, có lẽ do sự gợi ý của Đại sứ Ellsworth
Bunker, để chuẩn bị một báo cáo về Huế [31] Trong hai tuần cuối tháng Chín,
Pike đã gợi, trực tiếp hoặc gián tiếp, cho một số bài báo khác nhau về Huế và đề
tài "tắm máu" nói chung. Chính Pike đã tóm tắt lại cho một số phóng
viên phiên bản của ông ta về sự chiếm đóng Huế của Cộng sản, và cùng lúc đó lan
truyền bản dịch của một tài liệu bắt được của Cộng sản mà ông ta đã tìm thấy
trong hồ sơ - cái mà ông cho là một lời thừa nhận về vụ giết hàng loạt các thường
dân vô tội trong thời gian chiếm đóng Huế.
Tài
liệu đã là chủ đề của một số câu chuyện trên báo chí Mỹ. Ví dụ, tờ Washington
Post đăng bài của Associated Press về tài liệu đó với tiêu đề "Quân Đỏ giết
2900 người ở Huế trong Tết, theo tài liệu bắt được của địch". [32]. Bài của
thông tín viên báo Christian Science Monitor, dưới tiêu đề "Cộng sản thừa
nhận giết người", mở đầu rằng "Vụ thảm sát của Cộng sản tại Huế đầu
năm 1968 đã thể hiện sự cực điểm của tính toán kĩ càng. [33]. Cả hai bài báo đều
trích dẫn từ câu sau của bản dịch như là một bằng chứng của sự thừa nhận:
"We eliminated 1892 administrative personnel, 20 second lieutenants, and
many non-commissioned officers".
Không
có bài báo nào đặt vấn đề về tính xác thực của tài liệu hay tính chính xác của
bản dịch mà họ nhận được. Nguyên bản tài liệu tiếng Việt, một bản sao mà tôi nhận
được từ US Command tại Việt Nam tháng Bảy năm 1972 cho thấy rằng tác giả vô
danh không nói những gì mà báo chí và công luận đã được đưa đến chỗ tin rằng
anh ta đã nói.[34] Trong nguyên bản tiếng Việt, câu được trích dẫn ở trên không
hỗ trợ tin chính thức của Mỹ rằng Cộng sản thừa nhận đã giết hơn 2600 thường
dân tại Huế. Trước hết, ngữ cảnh của câu trên không phải là một bàn luận về
chuyện trừng phạt những người được coi là tội phạm hay "kẻ thù", mà
là một tường trình tổng quan về cuộc tấn công trong việc tiêu diệt quân đội và
chính quyền Thừa Thiên. Tại hai đoạn văn trước đó, tài liệu nói đến việc thiết
lập một "lực lượng chính trị với nhiệm vụ là tuyên truyền và kêu gọi quân
địch mang vũ khí ra hàng". Tài liệu gợi lại rằng các lực lượng tự phòng vệ
(self-defense) đã hoảng sợ đến nỗi khi quân của Mặt trận tấn công, họ đã cố vượt
sông và kết quả là 21 người trong số họ đã bị chết đuối. Đoạn viết về khu Phú
Vang ghi lại sức mạnh của các lực lượng chống đối và địa điểm của cuộc tấn
công, và nói về việc bắt được 12 xe tải chở lương thực và 60 cuộn vải cờ.
Câu
tiếp theo có ghi "We eliminated 1892 administrative personnel" trong
bản dịch chính thức. Nhưng từ "diệt", ở đây được dịch là
"eliminate", phải được hiểu là có nghĩa "destroy" hoặc
"neutralize" theo nghĩa quân sự, thay vì "kill" hay
"liquidate" như Pike và các bài báo đã viết. Như được sử dụng trong
các thông cáo quân sự cộng sản, từ này đã được dùng để bao gồm giết, làm bị
thương hoặc bắt sống đối với các lực lượng đối địch. Ví dụ, Thông cáo Đặc biệt
thứ Ba của Quân Giải Phóng Nhân dân, phát hành vào cuối cuộc tổng tấn công đã
viết "Ta đã _diệt_ một phần lớn lực lượng địch: theo thống kê ban đầu, ta
đã giết, làm bị thương và bắt sống hơn 90000 quân địch..."[35]. Cần lưu ý
rằng "diệt" không mang nghĩa "giết" trong bất cứ sử dụng tiếng
Việt thông thường nào, và rằng bản dịch chính thức rất không theo quy tắc
(irregular).
Hơn
nữa, từ "tề", được dịch là "administrative personnel" trong
phiên bản được lưu hành cho các phóng viên, thực ra có một nghĩa rộng hơn, theo
một từ điển Bắc Việt chuẩn, là "puppet personnel", bao gồm cả thường
dân và nhân viên quân sự. [36]. Trong thực tế, khi tài liệu chỉ cụ thể đến nhân
sự của chính quyền Sài Gòn, người viết dùng một từ khác: ngụy quyền. Do đó, cả
ngữ cảnh và cách sử dụng hàng ngày của các từ đang được nghi vấn đều trái với ý
nghĩa mà Pike đã thành công trong việc thuyết phục báo chí sử dụng.
TÀI LIỆU
"NHỮNG KẺ THÙ CỦA NHÂN DÂN" CỦA PIKE
Nếu
sự biểu đạt sai của tài liệu có thể được giải thích bởi kết hợp của sự dịch tồi
và sự sốt sắng của chính Pike trong việc tìm bằng chứng hỗ trợ cho luận cứ của
chính quyền, chính Pike phải nhận hoàn toàn trách nhiệm cho một trường hợp thứ
hai tương tự xảy ra gần như trong cùng thời gian. Pike đã đưa cho một số phóng
viên được chọn lọc từ trước một danh sách 15 phạm trù của cái mà ông ta gọi -
và đã được gọi như vậy trên báo chí - là "kẻ thù của nhân dân", những
gì được coi là mục tiêu cần tiêu diệt của Cộng sản. Danh sách có cả hai loại với
hàm ý rằng Cộng sản có ý giết các lãnh đạo tôn giáo và địa chủ hay tư bản:
"leading key members of religious organizations still superstitious"
(các thành viên quan trọng của các tổ chức tôn giáo mê tín dị đoan ), và
"members of the exploiting class" (các thành viên của tầng lớp bóc lột).
Tài liệu đã được đặt vào vị trí quan trọng tại các bài báo của tờ Los Angeles
Times và Washington Daily News về những thứ được cho là kế hoạch của Cộng sản
cho một cuộc "tắm máu", và một lần nữa được nhắc đến trong các câu
chuyện nói đến cuốn sách nhỏ của chính Pike [37]. Nhưng một lần nữa, dù tài liệu
có thể có tính xác thực, nhưng những giải thích được đặt lên trên nó rõ ràng đã
có ý ngụy tạo. Trước hết, chính tài liệu đó không nói gì về "kẻ thù của
nhân dân" [38]. Thứ hai, nó không nói hay ám chỉ rằng 15 loại người này phải
bị trừng phạt, chưa nói gì đến chuyện tiêu diệt, như Pike đã nói với các phóng
viên và về sau đã viết trong cuốn sách nhỏ của chính mình về Huế. [39]
Thực
ra, tài liệu đó, với tiêu đề "15 tiêu chuẩn cứu tập", chỉ đơn giản là
khái niệm của một cán bộ địa phương về các loại người cần phải theo dõi. [40].
Các loại người được đánh dấu cho việc trấn áp của MTDTGPMN khá là khác so với
những gì trong danh sách được Pike lưu truyền, danh sách đó không bao gồm cả
"leading key members of religious organizations still superstitious"
(các thành viên quan trọng của các tổ chức tôn giáo mê tín dị đoan ), hay
"members of the exploiting class" (các thành viên của tầng lớp
"leading key members of religious organizations still superstitious"
(các thành viên quan trọng của các tổ chức tôn giáo mê tín dị đoan ), và
"members of the exploiting class" (các thành viên của tầng lớp bóc lột).
Và chắc chắn Pike phải nhận biết được điều đó, do một tài liệu khác liệt kê những
loại người cần trừng phạt đã được công bố bởi US Mission vào tháng 10 năm 67.
[41]
Một
nhân tố khác được gợi ý bởi sự có mặt của Pike tại Sài Gòn là lời chứng của một
người "chiêu hồi", hay đào ngũ, từ phía MTDTGP về vấn đề tắm máu. Kỹ
thuật trưng bày hàng binh trước các cuộc họp báo đã được Phòng Chiến tranh
Chính trị sử dụng nhiều lần để chứng minh một vấn đề chính trị mà nếu không thì
không thể được ghi lại một cách thuyết phục. Tuy các nhà báo có kinh nghiệm nhất
ở Sài Gòn luôn hoài nghi trước các tuyên bố của những hàng binh được Sài Gòn
trưng bày, nhưng luôn có những nhà báo bị lôi cuốn bởi ý tưởng phỏng vấn một cựu
cộng sản thực thụ. Do đó, người ta đã sắp đặt để Le Xuan Chuyen, người nhận là
đã là trung tá của Quân đội Nhân dân Việt Nam trước khi đào ngũ vào tháng Tám
năm 1966, được phỏng vấn bởi các thông tín viên của Washington Daily News và
Los Angeles Times để công bố quan điểm của ông ta về các kế hoạch của Cộng sản
về một cuộc tắm máu hậu chiến. Chuyen ước lượng rằng một danh sách "nợ
máu" Cộng sản bao gồm khoảng 5 triệu người Nam Việt Nam, trong đó khoảng
500 000 người sẽ bị giết. [42]
Một
ghi chú ngắn về quá khứ của Chuyen sẽ giúp đặt lời chứng này dưới một góc nhìn
đúng đắn. Ngay cả trong cuộc thẩm vấn đầu tiên, người tự xưng là "trung
tá" (một cấp bậc mà người thẩm vấn muốn hỏi) đã thể hiện một vẻ cơ hội
chính trị đáng ghi nhận. [43] Ông ta đã chần chừ ca ngợi Thiệu và Kỳ là các nhà
lãnh đạo "can đảm, yêu nước và có tinh thần dân tộc cao," và thậm chí
trước cả khi được hỏi. [44]. Trong vòng vài tháng, Chuyen đã được đề cử làm
giám đốc Trung tâm Chiêu Hồi của chính quyền Sài Gòn - một vị trí đã không hề
được nhắc đến trong các tường trình báo chí về các tuyên bố của ông ta về các
chính sách được cho là của Cộng sản [45].
Người
hàng binh được cho là cao cấp thứ hai, thiếu tá Tran Van Dac, tại thời điểm đó
thực ra đang là Cố vấn Kế hoạch (Planning Adviser) cho tổng giám đốc (general
directorate) chiến tranh chính trị của QLVNCH. Đây khó có thể là một nhân chứng
vô tư. [46]. Phát biểu năm 1969 của ông ta rằng có 3 triệu người Việt Nam trong
danh sách "nợ máu" đã tiếp tục được những người biện hộ của chính quyền
Mỹ lấy làm cơ sở, trong đó có ngài Robert Thompson và chính Pike. [47]

Thành
công chính của Pike là đưa ra "ước lượng" chính thức hay con số 4756
là số thường dân bị MTDTGPMN giết ở Huế và các khu vực lân cận. Đây là một kỳ
công không hề nhỏ, vì để có được con số này, Pike đã phải dùng thống kê làm biến
mất hàng ngàn dân thường là nạn nhân của bom Mỹ tại Huế. Sự thật không thể phủ
nhận là bom và rốc-két của Mỹ, chứ không phải các cuộc ám sát của Cộng sản, đã
gây ra thương vong lớn nhất tại Huế. Sự đổ máu và tàn phá đã lay động ngay cả
những người ủng hộ lâu năm cho các nỗ lực chống Cộng. Khi đó, Robert Shaplen đã
viết, "Trong chiến tranh Triều Tiên hay trong chiến tranh Việt Nam cho đến
giờ, tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái gì khủng khiếp, nếu tính về sự tàn phá và
tuyệt vọng, như tôi đã thấy ở Huế." [48]. Sau khi sự chiếm đóng của Cộng sản
tại Huế kết thúc, Don Tate của Scripps-Howard Newspapers miêu tả những hố bom rộng
14m và sâu 6m rải rác trên những con phố gần thành cổ và "những tử thi xếp
chồng lên nhau 5 xác một trong những hố chôn." [49] 9.776 trong số 17.134
ngôi nhà ở Huế đã bị phá hủy hoàn toàn, 3.169 ngôi nhà khác được chính thức xếp
vào loại "bị hư hại nghiêm trọng". (Trong phần còn lại của tỉnh Thừa
Thiên, 8000 ngôi nhà khác bị hủy hoại quá nửa. [50]). Ước lượng ban đầu của Nam
Việt Nam về số dân thường bị chết trong cuộc giao tranh đẫm máu là 3.776 [51].
Tuy
nhiên, khi các chuyên gia chiến tranh chính trị VNCH bắt tay vào việc, ước lượng
ban đầu này, được ghi trong một báo cáo tháng Ba của văn phòng tỉnh về Dịch vụ
Xã hội và Tỵ nạn, bằng cách nào đó đã bị thay bởi một ước lượng mới là con số
944, được công bố trong cuốn tài liệu của Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số
10. [52] Và đây là tất cả những gì Pike cần để biến hàng ngàn dân thường thiệt
mạng thành nạn nhân của một cuộc "tàn sát của Cộng sản".
Trong
một sơ đồ mà ông gọi là một "bản kê tóm tắt lại" về những người chết
và mất tích, Pike bắt đầu không phải bằng cách liệt kê số lượng thương vong từ
nhiều nguyên nhân khác nhau, mà bằng một tổng số 7.600, con số mà ông ta nói là
"ước lượng tổng số thương vong dân thường tại chiến trận Huế" của
chính quyền Sài Gòn. [53]. Tuy nhiên, ước lượng nguyên gốc của chính phủ một lần
nữa do Văn phòng Xã hội của tỉnh cung cấp, lại chỉ là hơn 6.700 - chứ không phải
7600 - và được dựa trên ước lượng 3776 thường dân bị chết tại chiến trường Huế.[54].
Thay vì sử dụng số liệu của Văn phòng Xã hội, Pike dùng con số 944 của Tiểu
đoàn Chiến tranh Chính trị số 10. Đem trừ con số đó và con số 1900 người nằm viện
vì các vết thương chiến tranh, Pike thu được con số 4756 mà ông ta cho là tổng
số nạn nhân của thảm sát do Cộng sản, bao gồm cả 1945 trường hợp "mất
tích" bằng phương pháp tính toán kỳ quặc này. Nói ngắn gọn, toàn bộ quy
trình thống kê này có mục đích duy nhất là đạt đến một con số thiếu trung thực
4756 nạn nhân của một vụ "thảm sát".

PIKE VIẾT LẠI
CHÍNH SÁCH CHO MTGPDT.
Trọng tâm của phân
tích của chính Pike là cái mà ông ta gọi là một "giả thuyết" về chính
sách của lãnh đạo MTDTGPMN tại Huế trong thời gian chiếm đóng thành phố. Ý
chính của "giả thuyết" như sau: chính sách của MTDTGPMN trải qua 3
giai đoạn rõ ràng, tương ứng với các pha khác nhau của cuộc chiếm đóng: trong
những ngày đầu, MTDTGPMN chỉ kỳ vọng vào việc giữ quyền kiểm soát tạm thời và
nhiệm vụ của họ không phải là thiết lập chính phủ của chính họ mà là phá hủy cấu
trúc chính quyền Sài Gòn. Trong giai đoạn này, với các danh sách đen, các cán bộ
MTDTGPMN đã hành quyết không chỉ các nhân viên dân sự và quân sự mà còn cả các
lãnh đạo tôn giáo và xã hội. Tiếp theo, sau ngày thứ ba hoặc thứ tư, lãnh đạo Cộng
sản quyết định rằng họ có thể giữ thành phố lâu dài, do đó, theo lời Pike, họ
đã bắt đầu một "thời kỳ tái cơ cấu xã hội" và tìm diệt tất cả những
ai không có lý tưởng vô sản và thành phần xuất thân vô sản, đặc biệt là các
lãnh đạo Phật giáo, Cơ Đốc giáo và trí thức. Cuối
cùng, khi họ chuẩn bị rời khỏi thành phố vào cuối tháng Hai, họ giết bất kỳ ai
có thể nhận diện các cán bộ của họ trong thành phố. [55]
Trong
khi Pike mơ hồ nhắc tới các mẩu bằng chứng khác nhau mà ông cho rằng chúng hỗ
giả thuyết đó, ông ta không đưa một dẫn chứng nào trong tài liệu được xuất bản
của mình. Trong bất cứ trường hợp nào, mọi bằng chứng hiện có đều mâu thuẫn giả
thuyết của Pike từ đầu đến cuối. Trước hết, các tài liệu bắt được của MTDTGPMN
hàm ý rằng Mặt trận có nhiệm vụ không chỉ phá hủy chính quyền Sài Gòn mà còn
xây dựng tại Huế một chính quyền cách mạng và đặt kế hoạch giữ thành phố càng
lâu càng tốt. Trong thực tế, chính tài liệu mà Pike sử dụng để khẳng định sự thừa
nhận trách nhiệm của Cộng sản về vụ giết hàng loạt dân thường đã chỉ rõ rằng Giải
phóng Quân có "nhiệm vụ chiếm giữ Huế càng lâu càng tốt để một chính quyền
cách mạng có thể được thành lập." [56]
Còn
về các danh sách đen cho hành quyết, khẳng định của Pike rằng danh sách dài và
bao gồm cả các quan chức cấp thấp và các nhân vật không nằm trong chính quyền
mâu thuẫn với không ai khác ngoài chính chỉ huy trưởng cảnh sát mật của Huế, Le
Ngan, người cũng có tên trong danh sách. Năm 1968, ngay sau khi tái chiếm thành
phố, Le Ngan kể với cựu nhân viên tổ chức Tình nguyện Quốc tế Len Ackland, người
đã làm việc ở Huế trước cuộc tổng tấn công, rằng danh sách đen cho khu Gia Hội
chỉ bao gồm các sĩ quan của bộ máy cảnh sát mật của khu. [57]
Các
danh sách khác là về những người được chọn không phải để hành quyết mà là để bắt
giữ và cải tạo. Những người bị bắt - tuy không nhất thiết bị hành quyết, theo một
tài liệu có tên "Bản kế hoạch công kích và khởi nghĩa của mũi A" mà
tôi nhận được từ Joint US Public Affairs Office tháng 6 năm 1971 - được giới hạn
trong một số lượng tương đối nhỏ các quan chức Mỹ và Việt. [58]. Tài liệu nói rằng
"Về tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng, các sĩ quan từ đại tá trở lên, các sĩ
quan tình báo Mỹ và các trưởng các bộ phận, nếu tình hình thuận lợi, một số bị
bắt lúc 12 giờ, họ phải nhanh chóng thuyết phục những người khác không trốn
tránh và kêu gọi họ đầu hàng ... và sau đó ta phải đưa họ ra khỏi thành phố."
Theo kế hoạch, những người bị bắt cần được giữ trong các nhà tù bên ngoài thành
phố cho đến khi hồ sơ của họ được nghiên cứu và các phán quyết được đưa ra cho
từng trường hợp cụ thể. Nó nhấn mạnh rằng không một người nào trong số các quan
chức cao cấp Việt và Mỹ bị giết trừ khi tình hình chiến trận trong những giờ đầu
tiên không thành công và không có cách nào đưa họ ra khỏi thành phố - một hoàn
cảnh rõ ràng đã không xảy ra.
Tiếp
theo, tài liệu loại trừ các viên chức cấp thấp ra khỏi diện bị bắt hoặc trừng
phạt: "Về những nhân viên dân sự làm việc cho địch vì kế sinh nhai và
không chống đối cách mạng, giáo dục họ và nhanh chóng giao cho họ trách nhiệm để
tiếp tục làm việc phục vụ cách mạng."
Có
một loại thứ ba: những người không phải quan chức cấp cao, cũng không phải nhân
viên dân sự thông thường mà là những người đã từng có lần chủ động tham gia bộ
máy bán quân sự của chính quyền. Tuy những cá nhân này không được giao việc,
nhưng bằng chứng cho thấy kế hoạch là cải tạo họ chứ không phải hành quyết, miễn
là MTGPDTMN giữ được quyền kiểm soát thành phố. Trong những ngày đầu của cuộc
chiếm đóng, họ đã được lệnh khai báo với hội đồng địa phương nhưng rồi đã được
phép trở về nhà. [59]
Điều
đó không có nghĩa không có các vụ hành quyết tại Huế trong giai đoạn đầu của cuộc
chiếm đóng. Len Ackland và thông tín viên tờ Washington Post Don Oberdorfer đã
ghi lại các trường hợp của các cá nhân đã bị hành quyết khi họ cố trốn tránh Mặt
trận hoặc chống đối chính phủ mới theo cách này hay cách khác. [60]. Nhưng những
biện pháp cứng rắn này, mà trong nhiều trường hợp có thể đã phản ánh những hành
động cá nhân của quân lính hoặc cán bộ thay vì một quyết định chính sách của Mặt
trận (như khi một người bị bắn vì kháng cự khi bị bắt), không hề giống với sự
trừng phạt hàng loạt đối với các vị trí quan chức hay thái độ chính trị mà
Douglas Pike đã khẳng định. Và số vụ hành quyết cũng tương đối nhỏ, theo lời
các cư dân Huế đã được Ackland phỏng vấn.
MỤC SƯ VÀ CÁC
TRÍ THỨC TỰ HÀNH QUYẾT
Luận
cứ của Pike rằng có một giai đoạn "tái cơ cấu xã hội" đánh dấu bằng một
đòn trừng phạt các nhân vật tôn giáo và trí thức mâu thuẫn với không những
logic của chiến lược chính trị của MTDTGPMN mà còn bởi các tài liệu bằng chứng.
Như chính Pike đã chỉ ra trong cuốn sách của mình, "Chiến tranh, hòa bình,
và Việt Cộng", xuất bản năm 1969, chính quyền cách mạng tại Huế trong thời
kỳ chiếm đóng đã bao gồm một số lãnh đạo của Phong trào Đấu tranh năm 1966 chống
chính quyền Kỳ - chính các lãnh đạo trí thức và Phật giáo mà về sau ông ta đã
khẳng định vào năm 1968 MTDTGPMN muốn tiêu diệt một cách có hệ thống. [61]. Những
người này không phải những người cách mạng vô sản hăm hở trả thù hệ thống Phật
giáo và tầng lớp học thức, như Pike đã gợi ý, mà là đại diện của những hội nhóm
ở Huế đã chủ động phản đối chính phủ Thiệu-Kỳ và sự chiếm đóng của quân đội Mỹ.
Chính trên những tầng lớp này mà MTDTGPMN đã đặt cơ sở cho chiến lược chính trị
của họ về một mặt trận thống nhất rộng lớn nhất có thể tại Huế.
Do
đó, chủ tịch Ủy ban Cách mạng tại Huế là Le Van Hao, nhà dân tộc học nổi tiếng
của Đại học Huế, người trước đó đã biên soạn Struggle Movement's publication
_Vietnam, Vietnam_. Một phó chủ tịch là một cao tăng Phật giáo của miền Trung
Việt Nam, Thich Don Hau. Các lãnh đạo khác của Phong trào Đấu tranh năm 1966
quay trở về làm thành viên của Ủy ban Cách mạng bao gồm Hoàng Phủ Ngọc Tường, cựu
giáo viên trường Quốc học, người đã trở thành tổng thư ký của ủy ban mới; Nguyễn
Đắc Xuân, người đã được Phong trào Đấu tranh ở Huế phân công tổ chức
"student commandos" tại Đà Nẵng năm 1966; và Ton That Duong Ky, một
giáo sư Đại học Huế.
Những
người đã từng tham gia phong trào Phật giáo năm 1966 cũng được đưa vào chính
quyền cách mạng bởi các nhân vật nổi tiếng khác từ các trường viện giáo dục tại
Huế, chẳng hạn bà Nguyen Dinh Chi, cựu hiệu trưởng của trường nữ sinh Đồng
Khánh danh tiếng, người là một nữ phó chủ tịch của nhóm "Liên minh"
được thành lập muộn hơn vào năm 1968. Ton That Duong Thien, một thày giáo tại
trường trung học Nguyễn Du, đã chỉ huy các hoạt động tại khu Gia Hội, và nhiều
người khác thuộc tầng lớp trí thức Huế đã nhận các vị trí có trách nhiệm trong
chính quyền cách mạng.[62]
"Kế
hoạch công kích và khởi nghĩa" còn khẳng định rằng chiến lược chính trị của
Mặt trận là dựa vào các sư tăng và tín đồ Phật giáo để được hỗ trợ tại Huế.
Trong một mục nói cụ thể về các nhóm tôn giáo, tài liệu viết: "Chúng ta phải
tìm kiếm mọi cách để đoàn kết và giành được sự ủng hộ của các tín đồ và sư sãi
Phật giáo."
Về
những người Công giáo ở Huế, bằng chứng từ cả các tài liệu của Cộng sản và nhân
chứng cho thấy chính sách của MTDTGPMN không hướng về phía chống lại Giáo hội
Công giáo. Tài liệu "Kế hoạch công kích và khởi nghĩa" bắt được nói đến
việc "cô lập (isolate) những tên phản cách mạng lợi dụng Công giáo tại Phú
Cam". Tuy nhiên, trong thuật ngữ tiếng Việt của Cộng sản, "cô lập"
có nghĩa hành động để cắt đứt các ảnh hưởng của các cá nhân nói trên ra khỏi
các sự vụ của cộng đồng. Nó không có nghĩa hành quyết hay thậm chí không nhất
thiết có nghĩa bỏ tù, trái với những gì mà các chuyên gia chiến tranh chính trị
có thể thuyết phục.
Tài
liệu chỉ ra rằng chỉ có các mục sư bị phát hiện "che dấu địch" mới là
đối tượng trừng phạt, và mức độ trừng phạt cụ thể còn tùy vào mức độ mà chống đối
cách mạng của cá nhân đó trong quá khứ.
Tại
khu Gia Hội, nơi MTDTGPMN đã kiểm soát trong 26 ngày, một linh mục Công giáo
nói với Len Ackland rằng không một ai trong số các giáo dân của ông bị MTDTCPMN
hại. [63]. Hai nhân vật Công giáo duy nhất được xác nhận bởi chính quyền Sài
Gòn là đã bị giết bởi MTDTGPMN là hai linh mục người Pháp dòng Benedictine, Cha
Guy và Cha Urbain. Tuy nhiên, các nguồn tin từ tu viện Thiên An báo cáo rằng
quân MTDTGPMN đã chiếm giữ tu viên vài ngày khi Cha Guy và Cha Urbain vẫn có mặt
ở đó, và rằng không ai trong số hai người đó hay một linh mục nào khác bị hại.
Hãng Thông tấn Pháp đưa tin rằng hai người đã chạy khỏi tu viện để tránh bom Mỹ
vào ngày 25 tháng 2 - hai ngày sau khi quân MTDTGPMN đã rút. [64]. Địa điểm nơi
xác của hai người được tìm thấy là tại khu vực mà bác sỹ Vennema nói rằng dân
làng đã về các trận bom dữ dội của Mỹ vào thời điểm mà hai linh mục được cho là
bị giết. [65]. Hơn nữa, cuốn sách nhỏ của Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị khẳng
định rằng cả Cha Urbain và Cha Guy đã bị bắt và buộc phải tháo bỏ trang phục
linh mục trước khi bị đưa đến khu vực các ngôi mộ Đồng Khánh (the area of the
Dong Khanh tombs), nơi họ bị giết và chôn. Nhưng những mục sư tìm thấy xác của
Cha Urbain được trích lời trong chính cuốn sách nhỏ đó rằng ông ta nhận ra xác
do số hiệu giặt trên áo của vị linh mục!
Khái
niệm của Douglas Pike về một kế hoạch của MTDTGPMN về việc thanh trừng xã hội
Việt Nam qua các cuộc hành quyết hàng loạt kỳ quặc và không liên quan đến thực
tế của chính sách MTDTGPMN đến mức nó cho chúng ta biết nhiều về chủ ý của
chính Pike hơn là về hoạt động mà ông ta cho rằng mình đang miêu tả. Cũng như vậy,
khi ông ta có ý rằng Mặt trận cố gắng trừ khử bất cứ ai biết danh tính của những
cán bộ đã hoạt động bí mật tại Huế, có vẻ như ý đó được dựa trên khái niệm của
Pike về hoạt động của Mafia hơn là dựa trên bất cứ hiểu biết nào về hoạt động của
MTDTGPMN. Rõ ràng, các cán bộ mà danh tính đã được công khai không thể ở lại
thành phố khi MTDTPGMN rút đi. Những người khác, những người đã không để lộ
mình ngay cả sau khi MTDTGPMN đã chiếm được Huế, vẫn ở lại, điều đó không có gì
để nghi ngờ. [66]
Có
vẻ như Pike đã không nỗ lực thẩm tra về các sự kiện đã xảy ra trong giai đoạn
sau của thời gian Cộng sản chiếm đóng. Năm 1968, các quan chức chính quyền Sài
Gòn tại Huế đã nói với Len Ackland rằng những người bị MTDTGPMN giết khi họ chuẩn
bị rời thành phố trước áp lực quân sự của Sài Gòn và Mỹ là các quan chức và các
lãnh đạo chính trị chống Cộng, những người trước đó đã có trong danh sách cải tạo.
[67]. Tại thời điểm đó, MTDTGPMN đối mặt với các lựa chọn: để các cá nhân này
tiếp tục chiến tranh chống lại Mặt trận, hoặc trừ khử họ trong khi MTDTGPMN vẫn
còn nắm quyền kiểm soát thành phố, hoặc đưa họ ra khỏi thành phố để cải tạo.
Không nghi ngờ gì, một số trong số những người trước đó bị đánh dấu để cải tạo
đã bị hành quyết trong giai đoạn sau của cuộc chiếm đóng, tuy số lượng có vẻ ít
hơn nhiều lần con số mà chính quyền Sài Gòn và Douglas Pike khẳng định. Những
người khác trong số những người bị đánh dấu để cải tạo đã được đưa ra khỏi
thành phố, về phía núi để cho mục đích đó. Lời cáo buộc rằng những người tù này
đã bị giết một cách có hệ thống không hề được hỗ trợ bằng bằng chứng hay logic.
Do
đó, "giả thuyết" của Pike phải được đánh giá là không xứng đáng được
xem xét nghiêm túc. Nó thể hiện sự suy đoán méo mó không được đặt trong khuôn
khổ của việc chú trọng đến các bằng chứng tài liệu sẵn có, lại càng không theo
các chiến lược và chiến thuật cách mạng mà Pike tự cho mình là một chuyên gia.
Tuy vậy, cuốn sách nhỏ của Pike phải được xem là một thành công lớn trong chiến
tranh chính trị, do cách giải thích của ông ta về các sự kiện tại Huế vẫn là một
cách giải thích nổi trội hơn cả đối với các nhà báo và các nhân vật của quần
chúng.

Vấn
đề mà các nhà sử học phải cân nhắc về thời gian Mặt trận giải phóng dân tộc Miền
Nam chiếm giữ Huế không phải là các vụ tử hình có xảy ra hay không, mà là chúng
đã là các hành động bừa bãi hay là kết quả của một sự "thanh trừng"
có kế hoạch đối với toàn xã hội - như các chuyên gia chiến tranh chính trị
(political warfare specialists) của các chính quyền Mỹ và Sài Gòn. Cũng quan trọng
tương đương là câu hỏi cái gì đã gây ra cái chết cho hàng ngàn thường dân Huế
trong các trận đánh trong thành phố, Mặt trận giải phóng dân tộc Miền Nam hay
bom và pháo của Mỹ
Các
bằng chứng hiện có - không phải từ các nguồn của MTGPDTMN mà là từ các tài liệu
chính thức của Mỹ và Sài gòn và từ các quan sát viên độc lập - cho thấy rằng
câu chuyện chính thức về một vụ tàn sát bừa bãi những người được coi là không
đi theo phía MTGPDTMN là một sự ngụy tạo hoàn toàn. Không chỉ số lượng tử thi
được phát hiện ở trong và quanh thành phố Huế đang để ngỏ cho các câu hỏi, mà
quan trọng hơn, nguyên nhân của cái chết có vẻ như đã bị dịch chuyển từ chính
trận đánh sang chuyện tử hình của MTGPDTMN. Và các tường trình "có thẩm
quyền" và chi tiết nhất về các vụ được cho là tử hình được kết nối với
nhau bởi chính phủ không đứng vững trước thẩm tra.
Ngày
nay, hiểu biết về các kỹ thuật bóp méo và diễn đạt sai mà các nhà tuyên truyền
của Sài Gòn và Mỹ thực hành trong khi tạo dựng một chiến dịch chiến tranh chính
trị từ thảm kịch của Huế cũng có tầm quan trọng trong kém khi quân Mĩ vẫn còn
tham chiến tại Việt Nam. Nó đi vào tận gốc rễ của vấn đề đối mặt với sự thật về
cách mạng Việt Nam và các nỗ lực của Mỹ nhằm trấn áp nó bằng vũ lực. Tầm màn
sai trái được dựng lên quanh cuộc Tổng tấn công Mậu Thân tại Huế đã và sẽ là một
cơ chế phòng vệ khác của chính phủ Mỹ cũng như phần lớn công luận Mỹ để tránh
phải đối mặt một cách thành thực với tính chất thực của cuộc đấu tranh ở đó.
▲
Về một nghiên cứu về chiến lược này, Xem D. Gareth Porter, "Bloodbath;
Myth or Reality?" Indochina Chronicle No. 19, September 15, 1973.
▲
Joseph Dees, "Survivors Relate Communist Mass Murders of 1,000 in
Hue," IPS (USIS) dispatch, April 23, 1968.
▲
New York Times, May 1, 1968; Washington Post, May 1, 1968.
▲
Vietnam Press, May 1, 1968. The UPI story on the report indicated that it was
based solely on information supplied by the police, failing to mention the role
of the Political Warfare Battalion. Washington Post, May 1, 1968. The New York
Times did not mention the source of the information. It is safe to say,
therefore, that no American newspaper reader learned that the ARVN Tenth
Political Warfare Battalion played the key role in compiling the story.
▲
New York Times, February 29, 1968.
▲
Le Monde, April 13, 1968.
▲
"Chronology of Graves Discovered, Vicinity of Hue (Civilian Deaths in Tet
1968)," obtained from the Office of the Assistant Secretary of Defense for
Public Affairs, February 1970.
▲
New York Times, March 28, 1968.
▲
"Chronology of Graves Discovered."
▲
New York Times, March 28, 1968.
▲
Vu Cuong Sat cua Viet Cong tai Co Do Hue (Communist Murder in Hue), Tenth
Political Warfare Battalion of ARVN, 1968, p. 13.
▲
Alje Vennema, "The Tragedy of Hue," unpublished manuscript, 1968, pp.
19-23.
▲
"Chronology of Graves Discovered," site 22.
▲
"Villagers Returning to Hue," UPI, in San Francisco Chronicle,
December 8, 1968; "South Vietnamese Farmer Stoically Works Fields,"
Washington Post, January 4, 1970.
▲
"Chronology of Graves Discovered," sites 21, 13 and 14.
▲
Tiền Tuyến, ngày 27-1-1969.
▲
Tiền Tuyến, ngày 3-5-1969
▲
Vietnam Press, April 12, 1969
▲
Washington Post, May 5, 1969.
▲
"Chronology of Graves Discovered," site 25.
▲
Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror (Saigon: U.S. Mission, Vietnam,
1970), p. 29.
▲
Baltimore Sun, October 12, 1969.
▲
Tiền Tuyến, 17-10-1969.
▲
Pike, op. cit., pp. 28-29.
▲
"Chronology of Graves Discovered."
▲
Embassy of Viet-Nam, Washington, D.C., Vietnam Bulletin, Viet- Nam Information
Series, No. 28, April, 1970, p. 6.
▲
Agence France-Presse dispatch, February 15, 1968, in L'Heure Decisive (Paris:
Dossiers AFP-Laffont, 1968), p. 153.
▲
Vietnam Bulletin, loc. cit.
▲
Pike đã nói điều này với Benedict Stavis của Đại học Cornell trong một cuộc phỏng
vấn ngày 10-9-1973. Letter from Stavis to the author, September 10, 1973.
▲
Washington Post, November 25, 1969.
▲
Christian Science Monitor, December 1, 1969.
▲
Tien Chien Thang Hue tu Ngay 31.1, 23.3" (Information on the Victory in
Hue from January 31 to March 23), xerox copy obtained from the Combined
Documents Exploitation Center, Saigon. The document, it should be noted, is far
from being a high-level report or analysis of the Tet Offensive in Hue. It is
handwritten, sketchy, and clearly done at the local level for local consumption.
▲
Nhân Dân, February 28, 1968.
▲
Từ Điển Tiếng Việt (Vietnamese Language Dictionary) (Hanoi: Nha Xuat Ban Khoa
Hoc, 1967), p. 927.
▲
Los Angeles Times, November 20, 1969; Washington Daily News, November 25, 1969
▲
Pike, op. cit., p. 16; news articles cited above.
▲
The paragraph immediately preceding Pike's mention of the document refers to a
whole class of villagers being "wiped out," op. cit.
▲
"15 Tieu Chuan Cuu Tap" (Fifteen Criteria for Investigation), bản sao
xerox nhận được từ Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn. Tài liệu này được sao lại tại
"Viet-Nam Documents and Research Notes", Document No. 97, August
1971, Part II.
▲
"Repressing Counterrevolutionaries: The Viet Cong System of
Punishment," Viet-Nam Documents and Research Notes, Document No. 5,
October 1967.
▲
Washington Daily News, November 5, 1969. Trên tờ Los Angeles Times, November
20, 1969, Chuyen đã đưa ra con số 3 triệu.
▲
Trong báo cáo về cuộc thẩm vấn Chuyen, người thẩm vấn đã đặt dấu chấm hỏi sau
chức vụ và các nhiệm vụ trong quá khứ trong VPA mà Chuyen đã nhận. U.S. State
Department, Captured Documents and Interrogation Reports (1968), item no. 55,
"Interrogation of Le Xuan Chuyen."
▲
Phát biểu của Tran Van Do, Troi Nam, No. 3, 1967, p. 13.
▲
Vo Van Chan, The Policy of Greater Unity of the People (Saigon: Minister of
Chieu Hoi, Republic of Vietnam, 1971), p. 19.
▲
See Pike, op. cit., p. 18; Sir Robert Thompson, "Communist Atrocities in
Vietnam," New York Times, June 15, 1972.
▲
"Letter from Vietnam," The New Yorker, March 23, 1968.
▲
Washington Daily News, March 1, 1968.
▲
"Status of Refugees," official report by Office of Refugees, U.S.
Agency for International Development, May 2, 1968.
▲
Saigon Post, March 17, 1968
▲
VC Carnage in Hue, Tenth Political Warfare Battalion, 1968, p. 8.
▲
Pike, op. cit., pp. 30-31.
▲
Saigon Post, March 17, 1968.
▲
Pike, op. cit., pp. 30-31.
▲
"Information on the Victory in Hue."
▲
Len Ackland and D. Gareth Porter, "The Bloodbath Argument," Christian
Century, November 5, 1969. Reprinted in Paul Menzel, ed., Moral Argument and
the War in Vietnam (Nashville: Aurora Publishers, 1971), pp. 141-46.
▲
"Ban Ke Hoach Con Kich va Khoi Nghia cua Mu A" (Plan for an Offensive
and General Uprising of Mui A), xerox copy obtained from Office of Special
Projects, JUSPAO, Saigon, June, 1971.
▲
Len Ackland, "Resist and They Die," unpublished manuscript, 1968, pp.
5-6.
▲
Như trên., pp. 15-19; Washington Post, December 7, 1969; and Don Oberdorfer,
Tet (New York, Avon Books, 1971), pp. 216-53.
▲
Pike, War, Peace and the Viet Cong (Cambridge, MIT Press, 1969.
▲
Ackland, op. cit., p. 8; Christian Science Monitor, May 8, 1968; Vennema, op.
cit., p. 10; notes from interviews in Hue by Francois Sully of Newsweek, March,
1968.
▲
Ackland and Porter, op. cit., p. 145.
▲
Agence France-Presse dispatch, March 3, 1968, in Vietnam Press Special Reports,
March 5, 1968.
▲
Vennema, op. cit., p. 26.
▲
Vu Cuong Sat cua Viet Cong tai Co Do Hue, pp. 2, 18-21.
▲
Cộng sản Trung Quốc đã gặp tình huống tương tự năm 1947, khi họ chiếm được một
tỉnh và các quan chức và chính quyền ngầm của họ lần đầu tiên nổi lên công
khai. David Gulala kể về chuyện mình đã hỏi một chính ủy về chuyện gì sẽ xảy ra
khi Hồng Quân phải rời thị xã. "Họ cũng sẽ rời đi và tiếp tục hoạt động bí
mật," ông ta trả lời. "Ông không sợ rằng họ sẽ mất giá trị vì đã để lộ
mình sao?" Gulala hỏi. Chính ủy trả lời, "Chúng tôi có những điệp
viên bí mật trong thành phố, những người đã không lộ mặt khi chúng tôi lấy được
nó. Chúng tôi thậm chí không biết họ là ai. Họ sẽ ở lại khi chúng tôi đi."
Galula, Counterinsurgency Warfare: Theory and Practice (New York: Praeger,
1964), pp. 56-57.
"Indochina
Chronicle," #33, June 24, 1974
Six
years after the stunning communist Tet Offensive of 1968, one of the enduring
myths of the Second Indochina War remains essentially unchallenged: the
communist "massacre" at Hue. The official version of what happened in
Hue has been that the National Liberation Front (NLF) and the North Vietnamese
deliberately and systematically murdered not only responsible officials but
religious figures, the educated elite and ordinary people, and that burial
sites later found yielded some 3,000 bodies, the largest portion of the total
of more than 4,700 victims of communist execution.
Although
there is still much that is not known about what happened in Hue, there is
sufficient evidence to conclude that the story conveyed to the American public
by the South Vietnamese and American propaganda agencies bore little
resemblance to the truth, but was, on the contrary, the result of a political
warfare campaign by the Saigon government, embellished by the U.S. government
and accepted uncritically by the U.S. press. A careful study of the official
story of the Hue "massacre" on the one hand, and of the evidence from
independent or anti-communist sources on the other, provides a revealing
glimpse into efforts by the U.S. press to keep alive fears of a massive "bloodbath."1
It is a myth which has served the U.S. administration interests well in the
past, and continues to influence public attitudes deeply today.
https://msuweb.montclair.edu/~furrg/porterhue1.html
Sử gia- Nhà báo Mỹ Gareth Porter
(Nguồn: https://huengaymoi.com/Lich-su/CAI-GOI-LA-THAM-SAT-MAU-THAN-HUE-1968-TRO-LUA-BIP-DA-BI-VACH-TRAN-BOI-MOT-SU-GIA-MY)
Sự thực về "Thảm Sát Cai Lậy?"
Lâu nay giới chống cộng thường rêu rao vụ pháo kích Trường Học Cai Lậy năm 74 như là một minh chứng tội ác của Cộng sản, Vậy sự thực nó thế nào và được thêu dệt ra sao?
Có thảm sát Cai Lậy không? Có nhưng những tài liệu cũng như bằng chứng được lưu lại, thì sự thât đây là một vụ "bỏ lửa gắp tay người" của ngụy quyền Sài Gòn nhằm đổ lỗi cho quân giải phóng để hạ uy tín trên trường quốc tế sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Vậy ai là thủ phạm thảm sát Cai Lậy?
Giữa tháng 3 năm 1974, vào giai đoạn ta và ngụy căng nhau, không còn hội họp gì nữa thì xảy ra một vụ làm chấn động dư luận: Ngụy quyền Sài Gòn vu cáo ta bắn đạn cối vào trường tiểu học cộng đồng Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) làm chết và bị thương nhiều em học sinh.
Ngụy quyền gửi công hàm cho Ủy ban Quốc tế đòi đi điều tra vụ này. Công hàm của ngụy nói rõ đó là 1 quả đạn cối 82mm nhãn hiệu Trung Quốc.
Các báo Sài Gòn đưa tin này với sự bình luận khác nhau. Các báo tay sai ngụy quyền chửi ta hết lời. Các báo khác lại nghi vấn, thắc mắc. Báo Đại dân tộc ra ngày 13 tháng 3 năm 1974 cho biết một phóng viên nhiếp ảnh đã bị canh giữ hết sức nghiêm ngặt và buộc phải đi xin phép tướng Nguyễn Vĩnh Nghi - Tư lệnh vùng 4 chiến thuật, mới được chụp ảnh hiện trường. Báo Hòa bình ngày 14 tháng 3 năm 1974 viết: Ngay sau khi được tin các phóng viên đã đến trường tiểu học Cai Lậy, nhưng họ bị cấm ngặt không được chụp ảnh. Lúc có được phép, thì hiện trường đã được dọn dẹp để phi tang, không còn gì để chụp. Báo Thế giới (Le Monde) ngày 14 tháng 3 năm 1974 viết: Gần Cai Lậy pháo binh ông Thiệu vẫn thường bắn vào vùng đông dân. Các báo thắc mắc: Nếu nói là tội ác của Việt cộng, tại sao lại ngăn cản phóng viên đến tận nơi để phanh phui?
Một số anh em trong Tiểu ban Quân sự của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời đặt vấn đề nghiên cứu: Tại sao đối phương khẳng định đó là 1 quả đạn cối 82mm? Tại sao địch đổ vấy cho ta mà lại muốn bịt mắt phóng viên báo chí? Ắt là có vấn đề trong vụ này.
Chỉ huy đoàn ta đã điện về hỏi Bộ tư lệnh Miền về tình hình các căn cứ lõm của ta quanh thị trấn Cai Lậy. Mấy hôm sau, được "R" trả lời: Xung quanh thị trấn Cai Lậy, căn cứ gần chợ Cai Lậy nhất là 4km.
Cơ sở ta đã đến tận trường tiểu học xem xét hố đạn thì chỉ thấy "bằng cái bát ô tô" và nhiều vết mảnh đạn trên tường.
Tiểu ban quân sự đề xuất ý kiến: Đề nghị đoàn chấp nhận việc đi điều tra tại chỗ vì nghiên cứu những tư liệu đã có thì đây là một vụ mà đối phương dựng lên để vu cáo ta, che lấp tội ác của chúng. Mà đã dựng chuyện thì thế nào cũng có những điểm sơ hở. Ta có đi đến nơi thì mới phát hiện sơ hở để đập lại địch.
Quá trình trao đổi công hàm giữa ta và ngụy cùng với Ủy ban Quốc tế cũng chứng tỏ ý đồ vu cáo của ngụy.
Sự việc xảy ra ngày 9 tháng 3 năm 1974, đến ngày 11 tháng 3 năm 1974, phía ngụy quyền gửi cho ta một công hàm yêu cầu điều tra mà không ghi rõ tên và chức vụ người ký. Đương nhiên đoàn ta không chấp nhận. Ngày 12 tháng 3 năm 1974, ngụy bỏ phiên họp cấp trưởng đoàn.
Ngày 15 tháng 3 năm 1974, trong phiên họp cấp trưởng đoàn, ta phê phán thái độ không hợp tác của ngụy quyền Sài Gòn. Ta gửi công hàm cho Ủy ban Quốc tế yêu cầu điều tra tại chỗ.
Ngày 18 tháng 3 năm 1974, Ủy ban Quốc tế gửi công hàm yêu cầu hai bên Việt Nam hợp tác điều tra - ngụy quyền lẩn tránh.
Ngày 19 tháng 3 năm 1974, ta gửi công hàm cho ngụy quyền đề nghị hai bên cử tổ sĩ quan cùng với Ủy ban Quốc tế đi điều tra.
Ngày 22 tháng 3 năm 1974, trong cuộc họp cấp trưởng đoàn, một lần nữa ta lại đề nghị đi điều tra, nhưng ngụy quyền từ chối.
Ngày 25 tháng 3 năm 1974, người phát ngôn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố. Đây là một vụ thảm sát hết sức dã man của ngụy quyền Sài Gòn nằm trong âm mưu của chính quyền Sài Gòn nhằm đánh lạc hướng dư luận đang lên án Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn vi phạm ngày càng nghiêm trọng các điều khoản trọng yếu của Hiệp định Pa-ri.
Cuối cùng, các bên thỏa thuận ngày 30 tháng 3 năm 1974 Ủy ban Quốc tế sẽ đi điều tra, có sự tham gia của sĩ quan liên lạc hai bên Việt Nam.
Tổ điều tra của Ủy ban Quốc tế do Đại tá Grôm-bô-sơ (Hung-ga-ri) làm chủ tịch, các đoàn khác cũng do một đại tá dẫn đầu. Đoàn đi máy bay UH- 1 đến Mỹ Tho, bổ sung thêm thành viên rồi từ Mỹ Tho bay đi Cai Lậy. Hai bên quốc lộ 4 (nay là quốc lộ l), quang cảnh hoang vắng, ruộng đồng bỏ hoang. Máy bay hạ cánh xuống một đám đất trống phía đông thị trấn Cai Lậy rồi đi ô tô vào thị trấn. Trên đường rẽ vào trường tiểu học Cai Lậy có căng nhiều băng rôn đả đảo, vu cáo ta. Từng nhóm phòng vệ dân sự mặc đồ đen hò hét, yêu cầu dân chúng hô khẩu hiệu đả đảo Việt cộng.
Tất cả các thành viên của tổ điều tra đều ngồi trên xe Scout hoặc Jeep có sơn chữ ICCS.
Bước vào sân trường Cai Lậy, tôi chú ý tìm ngay cái gọi là 'hố đạn cối 82mm". Nếu không có cái biển đánh dấu thì không thể biết đó là cái "hố đạn" vì nó nông choèn, chỉ cần lấy mũi giày đá vài cái là có thể thành một cái hố như vậy. Thấy ngay đây không phải là một hố đạn cối vì nó không tròn, trái lại là hình bầu dục, dài 40cm, rộng 20cm, sâu 5cm, tôi chụp ảnh cái hố đó.
Quan sát các bức tường: phía nam không có dấu vết gì, nhưng tường phía đông "hố đạn" chi chít vết nhỏ bằng đầu đũa, có thể là mảnh đạn cộng với đất đá bắn lên.
Những điều quan sát được đã củng cố giả thiết "không phải là đạn cối 82mm" mà tiểu ban quân sự của ta đã xác định.
Hơn 10 giờ, tổ điều tra bắt đầu làm việc cũng có tranh cãi giữa vị đại biểu có "cảm tình với ngụy quyền Sài Gòn" với Chủ tịch Ủy ban Quốc tế, nhưng rồi cũng nhất trí: "Hôm nay là cuộc điều tra chính thức của Ủy ban Quốc tế. Sau khi điều tra ở trường học sẽ đến bệnh viện thăm các em học sinh bị thương, xem bệnh án trong ngày hôm nay".
Sau khi xem hiện trường, bắt đầu hỏi nhân chứng: Hiệu trưởng trường tiểu học Cai Lậy nói "Đang ngồi làm việc trong phòng, nghe thấy nổ quá lớn, khói tràn vào phòng, định thần lại thấy mình còn sống. Chạy ra sân thấy học sinh nằm sắp lớp, số bị thương nhẹ chạy vào văn phòng trường, chạy ra sân đến chỗ "hố đạn", lượm được cái đuôi đạn cối 82mm ở ngay tại hố nổ". Trời đất ơi, một hiện tượng chưa từng có: Một quả đạn cối nổ, đuôi văng thẳng đứng rồi rơi xuống đúng cái hố nổ, nơi quả đạn chạm đất. ông hiệu trưởng này đã bị lòi đuôi là kẻ vu khống. Khi bị tôi vặn hỏi, ông ta lại khẳng định: Tôi không lạ gì đạn cối 82mm nhãn hiệu Trung Quốc, trước tôi đi lính đã từng thấy, và đúng là tôi đã nhặt được cái đuôi đạn tại hố này.
Người thứ hai là quận trưởng Cai Lậy, Trung tá Lê Văn Lý. Khi Chủ tịch Tổ Quốc tế hỏi: "Xin ông cho biết cự ly từ trường tiểu học Cai Lậy đến vùng kiểm soát của Chính phủ Cách mạng lâm thời", y dương dương tự đắc: ở quận Cai Lậy không có vùng kiểm soát của Mặt trận giải phóng, nhưng rồi thấy hố, y vội chữa: Nhưng có du kích hoạt động! Khi một sĩ quan quốc tế hỏi: Ai báo cho ông biết tai nạn và lúc nào thì ông đến hiện trường? Tên thông dịch ngụy dịch láo là: ông có cho là tiếng nổ đó do giải phóng pháo kích không?
Đồng chí Vũ Dũng phiên dịch của đoàn ta đã chỉnh đốn ngay tên thông dịch và nói cho tổ điều tra biết là nó dịch láo. Trước đó, đồng chí Dũng cũng đã chỉnh một nữ thông dịch không dùng đúng từ ngữ của Hiệp định làm cô đó sợ quá phải xin thay người khác.
Một sĩ quan quốc tế mớm lời: Xin ông cho biết ai pháo kích và từ hướng nào?
Một lần nữa tên quận trưởng lại khoác lác: "Không cần phải suy nghĩ, ai cũng biết là Việt cộng pháo kích và bắn từ hướng đông bắc tới".
Tôi phản đối y dùng từ ngữ sai Hiệp định và yêu cầu phải nói đúng, y tlếp tục khai đúng là cốì 82mm tạo thành hố đạn hình bầu dục và đuôi văng về phía tây hố nổ.
Khi được đề nghị giải thích thêm về hướng bắn, tên quận trưởng lại có dịp phô trương "bản lĩnh" của mình, liền vẽ trên bảng đen để giảng giải: Xem dấu đạn nổ chuồi xuống, mảnh đạn văng ra, đằng trước nhiều nên tôi xác định được hướng bắn. Điều này trái với lý thuyết đạn cối nên các thành viên Tổ Quốc tế đều cười ồ!
Tôi đã chụp ảnh hình vẽ "minh họa" của tên quận trưởng vì thấy "hay" quá: Đường đạn súng cối mà nó vẽ y hệt đường đạn pháo bắn thẳng. Cuộc hỏi nhân chứng kết thúc lúc 15 giờ 10.
Thấy bị "bể", không còn cách nào lấp liếm khác hơn là phá vỡ cuộc điều tra, chúng giở ngón nhà nghề "bảo bối" của bọn ngụy quân, ngụy quyền là hành hung.
Bước ra cửa phòng họp, đã thấy một đám lưu manh và phòng vệ dân sự mặc đồ đen từ một trụ sở cảnh sát xông ra hò hét, chửi bới. Chỉ vào Đại tá Hung-ga-ri và chúng tôi, chúng nó gào lên: Mấy thằng đầu sỏ Cộng sản đó, đánh cho một trận! Bọn côn đồ tập trung tấn công vào xe chúng tôi, chửi, ném đá và cản xe, một thằng mặc quần áo đen, bê một tảng đá to bằng một cái mũ cối, đập vào cửa kính bên phải xe. Tôi nói to: Dũng lấy cặp da đỡ, hòn đá bật ra ngoài. Mảnh kính vỡ, cứa vào cổ làm chảy máu ở cổ Trung tá l-ran ngồi sát cửa. Tôi lấy ngay bông, băng dính mang theo để cầm máu cho vị trung tá. Nếu đồng chí Dũng không đỡ được cú đó thì chắc chắn cái đầu của vị Trung tá I-ran đã vỡ toác.
Trung tá No-vak (Hung-ga-ri), ngồi bên trái, lấy nắm đấm đập vào đầu lái xe, giục nó cho xe chạy. Các xe khác của Tổ Quốc tế cũng có nhừng cảnh giằng co, nhưng không mạnh bằng chỗ xe chúng tôi. Trong lúc bọn côn đồ hành hung, cản xe, cảnh sát và lính ngụy chỉ đứng nhìn, không can thiệp, còn sĩ quan liên lạc ngụy thì tránh mặt.
Như đã dự kiến, lúc rời phòng họp, tôi đã gửi máy ảnh và máy ghi âm cho Trung tá No-vak, đề phòng tụi nguy có thể cướp giật thì mình mất hết tư hệu.
Các đồng chí Hung-ga-ri có ý thức bảo vệ chúng tôi, thu xếp cho Dũng và tôi ngồi ghế sau, bên trái là Trung tá No-vak bên phải là Trung tá I-ran. Không hề trao đổi trước với nhau, nhưng các đồng chí Hung-ga-ri và chúng tôi đều đã đề phòng.
Trở về Mỹ Tho, chúng tôi đề nghị tổ điều tra họp phản đối ngụy quyền Sài Gòn.
Chủ tịch Tổ Quốc tế lên án Việt Nam cộng hòa tổ chức cuộc hành hung, cho nên Tổ Quốc tế dừng cuộc điều tra.
Chúng tôi cũng lên án ngụy tổ chức hành hung thành vỉên Tổ Quốc tế và sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời và nêu rõ là:
1 Khu vực trường tiểu học Cai Lậy được canh gác kỹ, xảy ra vụ hành hung là do nhà chức trách nguy quyển sắp xếp.
2. Cảnh sát và binh sĩ ngụy không hề ngăn cản mà còn kích động bọn côn đồ ném đá làm bị thương 1 sĩ quan I-ran.
3. Sĩ quan 1iên 1ạc Việt Nam cộng hòa tránh mặt.
4. Lái xe 1à người của Việt Nam cộng hòa bố trí, cố tình không cho xe chạy để bọn côn đồ hành hung.
Về đến ga Ủy ban Quốc tế Ở sân bay Tân Sơn Nhất, chúng tôi phải ở lại chờ xe ôm ra đón đưa về trại. Đồng chí No-vak chờ khi có xe ra đón chúng tôi mới đưa trả máy ảnh và máy ghi âm tôi đã gửi. Thật chu đáo.
Trong cuộc họp báo vài ngày sau đó, tôi được đồng chí Võ Đông Giang giới thiệu trình bày: Sự thật về vụ thảm sát Cai Lậy.
Trước đông đảo các nhà báo quốc tế và trong nước, chúng tôi đã trình bày những ý kiến, nhừng tư liệu thu thập được trong cuộc điều tra, những chỗ vô lý trong lời vu khống của quận trưởng Cai Lậy, mâu thuẫn giữa hai nhân chứng về vị trí đuôi đạn cối 82mm, mâu thuẫn ngay trong sự huênh hoang của quận trưởng Cai Lậy (đã hoàn toàn kiểm soát toàn quận, tại sao lại để du kích pháo kích vào quận lỵ giữa ban ngày)? Thái độ không hợp tác của phía Việt Nam cộng hòa với Ủy ban Quốc tế, tổ chức bọn côn đồ hành hung sĩ quan quốc tế và sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Kết luận rõ ràng là: Ngụy quyền Sàì Gòn đã gây ra vụ nổ thảm sát học sinh trường tiểu học Cai Lậy, rồi đổ vấy cho phía Chính phủ Cách mạng lâm thời, lại phá cuộc điều tra của Ủy ban Quốc tế.
Tất cả các nhà báo đã hiểu đầy đủ, cặn kẽ, không có ai hỏi gì thêm.
Toàn bộ bản tường trình hôm đó đã được Thông tấn xã Việt Nam phát đi. Phòng thông tin của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Pa-ri đã in thành 1 tập nhỏ: "Qui est l'auteur du massacre de Cai Lậy" (Ai là thủ phạm vụ thảm sát Cai Lậy) để góp phần đấu tranh dư luận. ( Nguồn Đại Tá Hà Cần, nguyên thành viên ban liên hợp quân sự 4 bên trong trại Davit)
Qua những bằng chứng trên có thế thấy được rằng, thực chất vụ thảm sát cai lậy mà đám chống cộng thường rêu rao thực chất là một vụ ngụy tạo của ngụy quyền. Thời điểm vụ thảm sát xảy ra đó là 1974 khi mà trên khắp các mặt trận ngụy đang lâm vào thế thua, trên bàn đàm phán ngụy cũng phải ký vào hiệp định giơ ne theo ý quan thầy Mỹ với nhiều điều khoản bất lợi. Trong chiến tranh chống Mỹ quân giải phóng hầu hết chí nhằm vào những mục tiêu quân sự, những mục tiêu có những cố vấn quân sự Mỹ, hầu như không bao giờ họ lấy mục tiêu dân sự đế tấn công. Hơn nữa ớ vùng Miền Tây khi đó họ đang rất cần sự ủng hộ của người dân, đang trên đà thắng thế lại cần sự ủng hộ của người dân thì không dại gì họ lại hất bát cơm đi khi cố tình nhằm vào trường học.
Ai sẽ là người được lợi trong vụ thảm sát cai lậy? Tất nhiên mặt trận quân giải phóng họ chả có lợi lộc gì khi tấn công vào trường học cả. Người được lợi nhất là Mỹ và ngụy quyền, họ dùng bằng cớ đó đế tố cáo Việt Cộng trên trường quốc tế. Sự thực những chiêu bài này hầu như vẫn được Mỹ sử dụng cho tới bây giờ nhất là trong những cuộc không kích vừa qua ở Trung Đông.
(Nguồn: facebook Những câu nói ngu đẳng cấp lịch sử của liên minh chống cộng thế kỉ XXI:
https://www.facebook.com/qdzgiaidocthongtin)